-
Phản xạ thời gian thực đẹp nhưng nặng.
-
Card đồ họa hiện đại có phần cứng chuyên dụng cho việc này, và bật nó lên gần như miễn phí về hiệu năng game.
-
Không nên tin hoàn toàn vào con số khung hình hiển thị nếu chưa kiểm tra độ ổn định theo thời gian.
-
Game tải dữ liệu ngầm trong lúc chơi, và ổ chậm không theo kịp nhịp di chuyển của người chơi.
-
Vật ở xa được thay bằng phiên bản đơn giản hơn, và người chơi gần như không nhận ra sự khác biệt.
-
Hạ tỷ lệ này cho phép game vẽ ở kích thước nhỏ hơn rồi phóng lên, giữ nguyên độ sắc nét của giao diện và chữ.
-
Nhiều vật thể lọt vào khung hình hơn nghĩa là phải dựng nhiều hơn, đây là cái giá của lợi thế quan sát.
yonfe
-
Tụt khung hình ngắn khó chịu hơn khung hình thấp đều.
-
Nhiều màn hình cùng lúc chia sẻ tài nguyên đồ họa.
-
Điểm nghẽn có thể nằm ở bộ xử lý chứ không phải card đồ họa.
-
Ánh sáng thể tích tạo chiều sâu cho khói sương nhưng nặng máy.
-
Đồng bộ dọc giới hạn khung hình theo tần số quét màn hình, tránh xé hình nhưng có thể tăng độ trễ đầu vào.
-
Khử răng cưa mức cao làm mượt viền vật thể nhưng giảm khung hình đáng kể trên máy yếu.
-
Nó làm cảnh vật có chiều sâu hơn với chi phí trung bình, thuộc nhóm nên giữ nếu máy đủ khỏe.
-
Chế độ chất lượng và chế độ hiệu năng khác nhau ở tỷ lệ dựng gốc.
-
Nhiệt độ ảnh hưởng đến hiệu năng sau vài chục phút chơi.
-
Đồ họa thấp, trung bình và cao thường tương ứng với ba mức khung hình khác nhau.
-
Độ phân giải màn hình cao đòi hỏi card đồ họa mạnh hơn để giữ khung hình ổn định.
-
Điểm chuẩn tổng hợp không phản ánh hiệu năng game cụ thể.
yonfe
-
Hiệu ứng hậu kỳ không phải cái nào cũng cần thiết.
-
Chúng được tính trước và ghi vào cảnh, nên chỉ những vật thể di chuyển mới cần bóng động.
-
Nhòe chuyển động che giấu khung hình thấp.
-
Chỉnh tỷ lệ render thấp hơn độ phân giải màn hình giúp tăng khung hình đáng kể trên máy yếu.
-
Giảm độ phân giải xuống một bậc thường tăng khung hình rõ rệt.
-
Ba lớp hiệu ứng hậu kỳ phổ biến là bloom, vignette và color grading trong hầu hết game hiện đại.
-
Nếu hạ đồ họa mà khung hình không tăng thì nút thắt nằm ở phần tính toán, và mọi tùy chỉnh hình ảnh đều vô ích.
-
Cài đặt sẵn ở mức trung bình là điểm khởi đầu hợp lý.
-
Nó tốn tài nguyên và đồng thời che mất những chi tiết ở xa, nên phần lớn người chơi nghiêm túc đều tắt nó đi.
-
Bản đồ ánh sáng dựng sẵn không tốn gì lúc chạy.
-
Cảm giác mượt quan trọng hơn con số hiển thị.
-
Trường nhìn quá rộng làm vật ở xa trông nhỏ và khó nhận ra.
yonfe
-
Cửa sổ không viền tiện chuyển ứng dụng nhưng chậm hơn chút.
-
Chỉnh màu hậu kỳ gần như không tốn hiệu năng.
-
Cách này giữ cho đồng bộ thích ứng luôn hoạt động trong dải hiệu quả, tránh những đợt vượt ngưỡng gây trở lại xé hình.
-
Con số này quyết định mức trần có thể đặt, và vượt qua nó thì hậu quả tệ hơn nhiều so với lợi ích hình ảnh thu được.
-
Hạ tỷ lệ dựng hình hiệu quả hơn hạ độ phân giải màn hình.
-
Khung hình mỗi giây, nhiệt độ máy và mức dùng bộ nhớ là ba chỉ số cần theo dõi.
-
Chỉnh gamma trong game khác với chỉnh độ sáng màn hình.
-
Bật nó lên cho phản hồi nhanh hơn với chi phí gần như bằng không trên phần lớn hệ thống.
-
Toàn màn hình hiệu năng tốt hơn.
-
Bật nó trên hệ thống không đủ điều kiện thường làm màu sắc trở nên nhợt nhạt hơn.
-
Các công cụ hiển thị thông tin chồng lên game đôi khi xung đột, nên tắt hết khi dò lỗi hiệu năng.
-
Che khuất môi trường thêm bóng mờ ở các góc.
yonfe
-
Chỉ so sánh trước và sau khi chỉnh trên cùng một máy mới cho kết luận đúng về tác dụng của một cài đặt.
-
Đánh giá trên mạng thường dùng cấu hình khác máy mình.